Chào mừng quý vị đến với Nghệ thuật - Sáng tạo của Bùi Thị Tân Việt.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Các nhà hội họa - Trường phái mĩ thuật > Các nhà hội họa >
Sự phát triển của hội hoạ Italia thời Phục hưng
Nói tới nghệ thuật hội họa thời phục hưng Ý thì cả là một vấn đề to lớn và hoành tráng vô cùng , khi ta tới các bảo tàng mỹ thuật ở các nước châu Âu , châu Mỹ , còn lưu lại những kiệt tác vô cùng giá trị cho hiện tại và mai sau chiêm ngưỡng và học tập .Nó là những dấu ấn biểu hiện rõ nét bước tiến văn minh của loài người , đó là những sáng tạo không ngơi nghỉ của tiền nhân đã dọn đường mở lối cho nhân loại tiến sâu vào vùng trời nghệ thuật , hội họa và điêu khắc đã được thăng hoa vô bờ bến dưới bàn tay và khối óc siêu phàm của loài người. Suy nghĩ và nhận xét về thời phục Hưng Ý , có rất nhiều nhà bình luận đã viết bài nhận xét rất thấu đáo và cụ thể .
Hội hoạ thời Tiền Phục Hưng

Vào những năm 60 của thế kỷ XIII, Roger Bacon (1219-1292), đã đưa ra nhiều ý tưởng mới mẻ, làm đảo lộn hoàn toàn các quy tắc và tiêu chuẩn từ trước tới nay vẫn đuợc áp dụng trong nghệ thuật hội hoạ Kitô giáo.
Ông đã vạch ra khuyết điểm quan trọng nhất của nền hội hoạ này, là sự không sáng sủa của các hình tượng và của cách diễn đạt, do đó đã không đáp ứng được nhu cầu giáo dục quần chúng. Đây không phải chỉ là do các hoạ sĩ, mà do chính những người đặt hàng cho các hoạ sĩ, những người có trách nhiệm trong giáo hội. Phong cách mà ông đề nghị là một phong cách được gọi là "tự nhiên", không công thức, không cách điệu hoá như phong cách Kitô giáo nguyên khai, và phong cách Byzantin nữa. Điều mới mẻ quan trọng nhất, mà theo ông, cần đưa vào áp dụng trong hội hoạ Kitô giáo, là sự hiểu biết và cảm nhận sâu sắc thế giới tự nhiên và các truyện tích trong Kinh Thánh, mà các danh hoạ như Jacopo Torriti, như Giotto, học trò của Cimabue, sẽ là những người diễn dịch tài tình nhất.

Jacopo Torriti, Thánh François từ biệt cha mình, bích hoạ, nhà thờ Assise, Ý (1295)
Roger Bacon vừa là một nhà khoa học, vừa là một nghệ sĩ đích thực, lại vừa có đủ uy tín trong giáo hội, cho nên tiếng nói và những điều ông đệ trình lên đức giáo hoàng, đã có trọng lượng và được mọi người nghe theo và ủng hộ, đặc biệt là các đức giáo hoàng Nicolas III (1277-1280) và Nicolas IV (1288-1292).
Nơi được chọn để làm thí điểm đầu tiên, dựa trên những quan niệm mới của Roger Bacon, là nhà thờ San Francesco ở Assise (Ý). Các bức bích hoạ ở đây đã được thực hiện một phần bởi các nhà tu hành có nhiều hiểu biết về Kinh Thánh, cũng như về nghệ thuật ; một phần bởi các danh hoạ, cũng xuất thân là những nhà tu hành, như : Jacopo Torriti và người phụ giúp ông, là Jacopo da Camerino.
Nhà thờ San Francesco ở Assise hoàn thành vào năm 1295, sẽ có một ảnh hưởng quyết định lên nền nghệ thuật Kitô giáo ở khắp các nước phương Tây, cũng như những bức bích hoạ của Giotto (1267-1337) ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena (Padoue, Ý) ngay sau đó (1302-1305).

Giotto, Bích hoạ ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena, Ý (1302-1305)
Nền hội hoạ ở Ý như có một nguồn cảm hứng mới, một luồng gió mới thổi đến, làm thay đổi hoàn toàn cách vẽ và cách nhìn vẫn có từ trước trong nghệ thuật ở Ravenne, ở Byzance và ở các nước phương Đông.
Vào thời kỳ này, nền hội hoạ Tiền Phục Hưng của Ý, với những quan niệm mới của Roger Bacon, và phong cách nghệ thuật của Jacopo Torriti và nhất là của Giotto, cùng với nền điêu khắc và hội hoạ gôtích của Pháp, với những bố cục cô đọng, giàu ý nghĩa tượng trưng và giàu chất trữ tình, đã ảnh hưởng đến nhiều nền nghệ thuật ở Âu châu.
Các hoạ sĩ bắt đầu chú ý đến những chi tiết hiện thực của đời sống hàng ngày. Những truyện tích không chỉ được miêu tả một cách mạnh mẽ và rõ ràng, mà còn được minh hoạ bằng những cảnh đời thường sống động. Bắt đầu từ đây, người hoạ sĩ không còn tự thoả mãn được với những tiểu xảo cho phép mình trình bày những nhân vật trong các tích truyện một cách chung chung, rập theo những khuôn mẫu cũ mòn, quen thuộc nữa, mà họ phải quan sát và thể hiện một cách tỉ mỉ các hiện tượng thiên nhiên, cũng như các nhân vật, dựa theo những mẫu người thật và vật thật.
Văn Ngọc (Diễn Đàn)
(Sưu tầm )
Hội hoạ thời Phục Hưng

Hội hoạ thời Phục Hưng ở Ý
Thời Phục Hưng ở Ý bắt đầu với thế kỷ XV (người Ý gọi là Quatrocento - 1400), nhưng thực ra nó đã nẩy mầm ngay từ thời Tiền Phục Hưng, với những bức bích hoạ đầu tiên do Giotto thực hiện ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena ở Padoue (1305), đem đến một phong cách hoàn toàn mới mẻ, và những ý tưởng nghệ thuật độc đáo, trùng hợp với những ý tưởng đã được Roger Bacon đề xướng và thực hiện ở Assise với Jacopo Torriti (1295).

Masaccio, Adam và Eve bị đuổi khỏi địa đàng (1425)

1455 Uccello: Thánh George giết rồng
Vào thời kỳ này, khi khen một hoạ sĩ nào, người ta thường có thói quen nói rằng : tác phẩm của hoạ sĩ đó có thể sánh ngang với "người xưa", người xưa đây là những hoạ sĩ Hy Lạp, La Mã cổ điển. Khái niệm "phục hưng" ở nơi người Ý đương thời, chính là để nói lên cái ý tưởng "khôi phục" lại ưu thế của La Mã về mặt văn hoá vào thời kỳ oanh liệt nhất, trước khi bị giặc Goth xâm lược ở thế kỷ VI, trong khi đối với người Âu châu, nói chung, thời kỳ Phục Hưng có một ý nghĩa rộng hơn : đó là thời kỳ người ta muốn quay trở lại với những quy tắc nghệ thuật cổ điển Hy-La, sau khi đã trải qua thời kỳ Trung cổ với các nền nghệ thuật rômăng, gôtích, v.v.
Giotto là người hoạ sĩ đầu tiên đã đem lại một phong cách hội hoạ Kitô giáo mới mẻ, tuy khác hẳn với phong cách byzantin, nhưng lại vẫn như có một cái gì đó rất khoẻ mạnh trong nét vẽ, như trên các bức tranh thờ của Tp. Byzance, và các bức tiểu hoạ Kitô giáo ở phương Đông.
Người hoạ sĩ tài hoa nhất sau Giotto, người đã mang đến một phong cách hội hoạ tôn giáo mới mẻ khác, là Masaccio (1401-1428), với bức bích hoạ đầu tiên sử dụng phép vẽ phối cảnh, đó là tác phẩm mang tên "Tam vị Nhất thể, Đức Mẹ, Thánh Jean và các nhà hảo tâm" (1425-1428) ở nhà thờ Santa Maria Novella, Firenze (Ý).

Fra Angelico: Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh, 1434-1435

1485 Botticelli: Venus ra đời
Thời Phục Hưng có lẽ là thời kỳ nghệ thuật Kitô giáo đã sản sinh ra nhiều tài năng hội hoạ nhất ở hầu khắp mọi nước Âu châu, nhiều nhất là ở Ý, với : Masaccio, Fra Angelico, Paolo Uccello, Piero della Francesca, Filippo Lippi, Ghirlandaio, Botticelli, Pietro Purigino, Raphael, Leonardo da Vinci, Michelangelo, v.v. ; ở Hà Lan, với : Jan van Eyck, Van der Weyden, Petrus Christus, Hans Memling, Hugo Van der Goes, Gerard David, và cả một trường phái được gọi là "trường phái nguyên khai Flamand" ; ở Pháp, với : Jean Fouquet, Engerrand Quarton, và ba anh em Limbourg ; ở Đức, với : Stefan Lochner, Albrecht Durer ; ở Bồ Đào Nha, với : Nuno Gonçalves, v.v.
Hội hoạ thời Phục Hưng ở Hà Lan và ở Pháp
Người ta thường chỉ hay nói nhiều đến nền hội hoạ "Phục Hưng Ý", nhưng thực ra, cùng trong thời kỳ này, ở Âu châu, còn có ít nhất hai nền hội hoạ khác cũng quan trọng không kém, về mặt nghệ thuật thuần tuý. Đó là nền "hội hoạ nguyên khai Flamand" ở xứ Flandre, xưa kia thuộc Hà Lan, nay thuộc Bỉ, mà tính chất hiện thực còn vượt xa hơn cả nền hội hoạ phục hưng Ý, và nền "hội hoạ quốc tế" chủ yếu đã phát triển ở Pháp và ở Anh, dưới dạng các tranh tiểu hoạ, dựa trên truyền thống hội hoạ rômăng và gôtích.

1495 Nuno Gonçalves: Thánh Vincent
Chỉ cần nêu lên ở đây một hai thí dụ tiêu biểu nhất cho những trường phái này.

Jan van Eyck, Giovanni Arnolfini và phu nhân (1434)
Jan van Eyck (1390-1441), là một trong những hoạ sĩ xuất sắc nhất của "trường phái nguyên khai Flamand", tác giả của nhiều tác phẩm sơn dầu nổi tiếng, như : "Con cừu huyền thoại - L’Agneau mystique" (1432), "Giovanni Arnolfini và phu nhân" (1434), "Đức Mẹ ở Chanoine Van der Paele" (1436). Chính ông là người đầu tiên đã chế ra chất sơn dầu để thử nghiệm trên các tác phẩm của mình. Ông đã dùng dầu thay thế cho lòng trắng trứng, để cho màu đỡ bị khô, mà lại óng mượt hơn, trong hơn.
Vào những năm này, lần đầu tiên, người ta thấy xuất hiện những bức hoạ mà nội dung không có tính chất tôn giáo. Bức hoạ "Giovanni Arnolfini và phu nhân" của Jan van Eyck, hoàn toàn không có ý nghĩa tôn giáo, cũng như bức hoạ "Trận chiến San Romano" (1450) của Paolo Uccello, một hoạ sĩ gốc Ý, người tỉnh Firenze.
Chúng ta thấy rằng nghệ thuật hội hoạ thời Phục Hưng rồi ra sẽ phát triển theo hướng này, trải qua các thời kỳ barốc, cổ điển, v.v. cho đến mãi sau này cũng vẫn giữ cái phương châm ấy : đưa những chi tiết hiện thực của đời sống vào hội hoạ, dù là hội hoạ tôn giáo, hay chỉ là những truyện tích thần thoại, lịch sử, hoặc những cảnh sinh hoạt đời thường. Mục đích của nghệ thuật không còn giới hạn vào việc minh hoạ những truyện tích có tính chất tôn giáo nữa, mà người hoạ sĩ còn có sứ mệnh phản ánh cái thế giới xung quanh mà mắt mình nhìn thấy. Phải chăng, lý tưởng nghệ thuật không còn chỉ là đức tin nữa, mà đã trở thành lý tưởng về một cái đẹp tuyệt đối ?

Paul và Jean Limbourg, Những giờ rất bận của hầu tước Berry (1410)
Nổi bật nhất trong các tác phẩm của "Trường phái quốc tế" là các bức tiểu hoạ của ba anh em Limbourg (Pháp), có tựa chung là : "Những giờ bận của hầu tước Berry" (1404-1408), rồi sau đó, "Những giờ rất bận của hầu tước Berry" (1412-1416). Ngoài ra, còn có một bức hoạ vẽ trên nền gỗ, mà người ta thường gọi là "diptyque Wilton", do một ông vua Anh đặt cho một hoạ sĩ, có lẽ cũng là người Pháp, vẽ vào cuối thế kỷ XIV.

1498 Durer: Tự hoạ
Các tác phẩm này có những màu sắc nhẹ nhàng, tươi mát, nét vẽ tế nhị, cách bố cục trang trọng, và đây đó cũng dùng chất liệu vàng kim, không khỏi làm cho người ta nghĩ đến nền hội hoạ gôtích, mà chắc hẳn nó đã chịu ảnh hưởng trực tiếp, cũng như nó không khỏi làm cho người ta nghĩ đến những bức bích hoạ và một hai bức hoạ vẽ trên nền gỗ của Fra Angelico, cũng với những màu sắc nhẹ nhàng ấy và phong cách ấy vài chục năm sau, tuy rằng Fra Angelico vẫn có những nét độc đáo riêng của mình, không thể nào nhầm lẫn được (ví dụ như tác phẩm "Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh", 1434-1435).
Bùi Thị Tân Việt @ 20:07 26/07/2009
Số lượt xem: 2218
Hội hoạ thời Tiền Phục Hưng

Vào những năm 60 của thế kỷ XIII, Roger Bacon (1219-1292), đã đưa ra nhiều ý tưởng mới mẻ, làm đảo lộn hoàn toàn các quy tắc và tiêu chuẩn từ trước tới nay vẫn đuợc áp dụng trong nghệ thuật hội hoạ Kitô giáo.
Ông đã vạch ra khuyết điểm quan trọng nhất của nền hội hoạ này, là sự không sáng sủa của các hình tượng và của cách diễn đạt, do đó đã không đáp ứng được nhu cầu giáo dục quần chúng. Đây không phải chỉ là do các hoạ sĩ, mà do chính những người đặt hàng cho các hoạ sĩ, những người có trách nhiệm trong giáo hội. Phong cách mà ông đề nghị là một phong cách được gọi là "tự nhiên", không công thức, không cách điệu hoá như phong cách Kitô giáo nguyên khai, và phong cách Byzantin nữa. Điều mới mẻ quan trọng nhất, mà theo ông, cần đưa vào áp dụng trong hội hoạ Kitô giáo, là sự hiểu biết và cảm nhận sâu sắc thế giới tự nhiên và các truyện tích trong Kinh Thánh, mà các danh hoạ như Jacopo Torriti, như Giotto, học trò của Cimabue, sẽ là những người diễn dịch tài tình nhất.

Jacopo Torriti, Thánh François từ biệt cha mình, bích hoạ, nhà thờ Assise, Ý (1295)
Roger Bacon vừa là một nhà khoa học, vừa là một nghệ sĩ đích thực, lại vừa có đủ uy tín trong giáo hội, cho nên tiếng nói và những điều ông đệ trình lên đức giáo hoàng, đã có trọng lượng và được mọi người nghe theo và ủng hộ, đặc biệt là các đức giáo hoàng Nicolas III (1277-1280) và Nicolas IV (1288-1292).
Nơi được chọn để làm thí điểm đầu tiên, dựa trên những quan niệm mới của Roger Bacon, là nhà thờ San Francesco ở Assise (Ý). Các bức bích hoạ ở đây đã được thực hiện một phần bởi các nhà tu hành có nhiều hiểu biết về Kinh Thánh, cũng như về nghệ thuật ; một phần bởi các danh hoạ, cũng xuất thân là những nhà tu hành, như : Jacopo Torriti và người phụ giúp ông, là Jacopo da Camerino.
Nhà thờ San Francesco ở Assise hoàn thành vào năm 1295, sẽ có một ảnh hưởng quyết định lên nền nghệ thuật Kitô giáo ở khắp các nước phương Tây, cũng như những bức bích hoạ của Giotto (1267-1337) ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena (Padoue, Ý) ngay sau đó (1302-1305).

Giotto, Bích hoạ ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena, Ý (1302-1305)
Nền hội hoạ ở Ý như có một nguồn cảm hứng mới, một luồng gió mới thổi đến, làm thay đổi hoàn toàn cách vẽ và cách nhìn vẫn có từ trước trong nghệ thuật ở Ravenne, ở Byzance và ở các nước phương Đông.
Vào thời kỳ này, nền hội hoạ Tiền Phục Hưng của Ý, với những quan niệm mới của Roger Bacon, và phong cách nghệ thuật của Jacopo Torriti và nhất là của Giotto, cùng với nền điêu khắc và hội hoạ gôtích của Pháp, với những bố cục cô đọng, giàu ý nghĩa tượng trưng và giàu chất trữ tình, đã ảnh hưởng đến nhiều nền nghệ thuật ở Âu châu.
Các hoạ sĩ bắt đầu chú ý đến những chi tiết hiện thực của đời sống hàng ngày. Những truyện tích không chỉ được miêu tả một cách mạnh mẽ và rõ ràng, mà còn được minh hoạ bằng những cảnh đời thường sống động. Bắt đầu từ đây, người hoạ sĩ không còn tự thoả mãn được với những tiểu xảo cho phép mình trình bày những nhân vật trong các tích truyện một cách chung chung, rập theo những khuôn mẫu cũ mòn, quen thuộc nữa, mà họ phải quan sát và thể hiện một cách tỉ mỉ các hiện tượng thiên nhiên, cũng như các nhân vật, dựa theo những mẫu người thật và vật thật.
Văn Ngọc (Diễn Đàn)
(Sưu tầm )
Hội hoạ thời Phục Hưng

Hội hoạ thời Phục Hưng ở Ý
Thời Phục Hưng ở Ý bắt đầu với thế kỷ XV (người Ý gọi là Quatrocento - 1400), nhưng thực ra nó đã nẩy mầm ngay từ thời Tiền Phục Hưng, với những bức bích hoạ đầu tiên do Giotto thực hiện ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena ở Padoue (1305), đem đến một phong cách hoàn toàn mới mẻ, và những ý tưởng nghệ thuật độc đáo, trùng hợp với những ý tưởng đã được Roger Bacon đề xướng và thực hiện ở Assise với Jacopo Torriti (1295).

Masaccio, Adam và Eve bị đuổi khỏi địa đàng (1425)

1455 Uccello: Thánh George giết rồng
Vào thời kỳ này, khi khen một hoạ sĩ nào, người ta thường có thói quen nói rằng : tác phẩm của hoạ sĩ đó có thể sánh ngang với "người xưa", người xưa đây là những hoạ sĩ Hy Lạp, La Mã cổ điển. Khái niệm "phục hưng" ở nơi người Ý đương thời, chính là để nói lên cái ý tưởng "khôi phục" lại ưu thế của La Mã về mặt văn hoá vào thời kỳ oanh liệt nhất, trước khi bị giặc Goth xâm lược ở thế kỷ VI, trong khi đối với người Âu châu, nói chung, thời kỳ Phục Hưng có một ý nghĩa rộng hơn : đó là thời kỳ người ta muốn quay trở lại với những quy tắc nghệ thuật cổ điển Hy-La, sau khi đã trải qua thời kỳ Trung cổ với các nền nghệ thuật rômăng, gôtích, v.v.
Giotto là người hoạ sĩ đầu tiên đã đem lại một phong cách hội hoạ Kitô giáo mới mẻ, tuy khác hẳn với phong cách byzantin, nhưng lại vẫn như có một cái gì đó rất khoẻ mạnh trong nét vẽ, như trên các bức tranh thờ của Tp. Byzance, và các bức tiểu hoạ Kitô giáo ở phương Đông.
Người hoạ sĩ tài hoa nhất sau Giotto, người đã mang đến một phong cách hội hoạ tôn giáo mới mẻ khác, là Masaccio (1401-1428), với bức bích hoạ đầu tiên sử dụng phép vẽ phối cảnh, đó là tác phẩm mang tên "Tam vị Nhất thể, Đức Mẹ, Thánh Jean và các nhà hảo tâm" (1425-1428) ở nhà thờ Santa Maria Novella, Firenze (Ý).

Fra Angelico: Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh, 1434-1435

1485 Botticelli: Venus ra đời
Thời Phục Hưng có lẽ là thời kỳ nghệ thuật Kitô giáo đã sản sinh ra nhiều tài năng hội hoạ nhất ở hầu khắp mọi nước Âu châu, nhiều nhất là ở Ý, với : Masaccio, Fra Angelico, Paolo Uccello, Piero della Francesca, Filippo Lippi, Ghirlandaio, Botticelli, Pietro Purigino, Raphael, Leonardo da Vinci, Michelangelo, v.v. ; ở Hà Lan, với : Jan van Eyck, Van der Weyden, Petrus Christus, Hans Memling, Hugo Van der Goes, Gerard David, và cả một trường phái được gọi là "trường phái nguyên khai Flamand" ; ở Pháp, với : Jean Fouquet, Engerrand Quarton, và ba anh em Limbourg ; ở Đức, với : Stefan Lochner, Albrecht Durer ; ở Bồ Đào Nha, với : Nuno Gonçalves, v.v.
Hội hoạ thời Phục Hưng ở Hà Lan và ở Pháp
Người ta thường chỉ hay nói nhiều đến nền hội hoạ "Phục Hưng Ý", nhưng thực ra, cùng trong thời kỳ này, ở Âu châu, còn có ít nhất hai nền hội hoạ khác cũng quan trọng không kém, về mặt nghệ thuật thuần tuý. Đó là nền "hội hoạ nguyên khai Flamand" ở xứ Flandre, xưa kia thuộc Hà Lan, nay thuộc Bỉ, mà tính chất hiện thực còn vượt xa hơn cả nền hội hoạ phục hưng Ý, và nền "hội hoạ quốc tế" chủ yếu đã phát triển ở Pháp và ở Anh, dưới dạng các tranh tiểu hoạ, dựa trên truyền thống hội hoạ rômăng và gôtích.

1495 Nuno Gonçalves: Thánh Vincent
Chỉ cần nêu lên ở đây một hai thí dụ tiêu biểu nhất cho những trường phái này.

Jan van Eyck, Giovanni Arnolfini và phu nhân (1434)
Jan van Eyck (1390-1441), là một trong những hoạ sĩ xuất sắc nhất của "trường phái nguyên khai Flamand", tác giả của nhiều tác phẩm sơn dầu nổi tiếng, như : "Con cừu huyền thoại - L’Agneau mystique" (1432), "Giovanni Arnolfini và phu nhân" (1434), "Đức Mẹ ở Chanoine Van der Paele" (1436). Chính ông là người đầu tiên đã chế ra chất sơn dầu để thử nghiệm trên các tác phẩm của mình. Ông đã dùng dầu thay thế cho lòng trắng trứng, để cho màu đỡ bị khô, mà lại óng mượt hơn, trong hơn.
Vào những năm này, lần đầu tiên, người ta thấy xuất hiện những bức hoạ mà nội dung không có tính chất tôn giáo. Bức hoạ "Giovanni Arnolfini và phu nhân" của Jan van Eyck, hoàn toàn không có ý nghĩa tôn giáo, cũng như bức hoạ "Trận chiến San Romano" (1450) của Paolo Uccello, một hoạ sĩ gốc Ý, người tỉnh Firenze.
Chúng ta thấy rằng nghệ thuật hội hoạ thời Phục Hưng rồi ra sẽ phát triển theo hướng này, trải qua các thời kỳ barốc, cổ điển, v.v. cho đến mãi sau này cũng vẫn giữ cái phương châm ấy : đưa những chi tiết hiện thực của đời sống vào hội hoạ, dù là hội hoạ tôn giáo, hay chỉ là những truyện tích thần thoại, lịch sử, hoặc những cảnh sinh hoạt đời thường. Mục đích của nghệ thuật không còn giới hạn vào việc minh hoạ những truyện tích có tính chất tôn giáo nữa, mà người hoạ sĩ còn có sứ mệnh phản ánh cái thế giới xung quanh mà mắt mình nhìn thấy. Phải chăng, lý tưởng nghệ thuật không còn chỉ là đức tin nữa, mà đã trở thành lý tưởng về một cái đẹp tuyệt đối ?

Paul và Jean Limbourg, Những giờ rất bận của hầu tước Berry (1410)
Nổi bật nhất trong các tác phẩm của "Trường phái quốc tế" là các bức tiểu hoạ của ba anh em Limbourg (Pháp), có tựa chung là : "Những giờ bận của hầu tước Berry" (1404-1408), rồi sau đó, "Những giờ rất bận của hầu tước Berry" (1412-1416). Ngoài ra, còn có một bức hoạ vẽ trên nền gỗ, mà người ta thường gọi là "diptyque Wilton", do một ông vua Anh đặt cho một hoạ sĩ, có lẽ cũng là người Pháp, vẽ vào cuối thế kỷ XIV.

1498 Durer: Tự hoạ
Các tác phẩm này có những màu sắc nhẹ nhàng, tươi mát, nét vẽ tế nhị, cách bố cục trang trọng, và đây đó cũng dùng chất liệu vàng kim, không khỏi làm cho người ta nghĩ đến nền hội hoạ gôtích, mà chắc hẳn nó đã chịu ảnh hưởng trực tiếp, cũng như nó không khỏi làm cho người ta nghĩ đến những bức bích hoạ và một hai bức hoạ vẽ trên nền gỗ của Fra Angelico, cũng với những màu sắc nhẹ nhàng ấy và phong cách ấy vài chục năm sau, tuy rằng Fra Angelico vẫn có những nét độc đáo riêng của mình, không thể nào nhầm lẫn được (ví dụ như tác phẩm "Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh", 1434-1435).
Bùi Thị Tân Việt @ 20:07 26/07/2009
Số lượt xem: 2218
Số lượt thích:
0 người
 


Các ý kiến mới nhất